Phần III: Một Scotland khác

Ngày duy nhất còn lại mà tôi ở Glasgow cũng vẫn là một ngày mưa. Nhưng người Scotland sẽ nói: “Aye, just a wee shower.” Kiểu như là: Ôi, mưa có một tí ấy mà.

Nhưng là một người Sài Gòn chính hiệu, mưa Scotland không thể làm tôi chùn bước được. Tôi che ô, đi bộ quanh trung tâm thành phố. Những con phố còn ướt nước mưa, người đi làm vội vã, xe điện leng keng chạy ngang các tòa nhà bằng sa thạch xám. Nhìn thoáng qua, Glasgow có vẻ như giống một thành phố công nghiệp của Bắc Âu.

Thế nhưng càng đi, tôi càng thấy thành phố này có một sức hút rất riêng.

Glasgow không cổ kính lắm. Nó cũng không chiều lòng du khách bằng những khung cảnh như bước ra từ một bộ phim. Điều khiến Glasgow khác biệt, đó là nghệ thuật.

Glasgow như một phòng trưng bày nghệ thuật ngoài trời. Chỉ cần rẽ qua một góc phố, ngước lên một bức tường hay bước vào một con hẻm nhỏ, lại có một tác phẩm khổng lồ hiện ra trên tường của các tòa nhà. Chúng hiện diện khắp thành phố: trên hông các tòa nhà, dưới gầm cầu, dọc những con hẻm, trên những bức tường gạch cũ. Glasgow không để một khoảng tường trống nào tồn tại đơn điệu.

Ở đây, các phòng triển lãm và bảo tàng luôn đông người mà hầu hết đều mở cửa miễn phí. Những cửa hàng thiết kế nhỏ nằm xen giữa quán cà phê và hiệu sách. Tiếng nhạc vang lên từ các quán pub và cả những nghệ sĩ hát rong trên phố. Ở Glasgow, nghệ thuật không đứng sau tấm kính của bảo tàng mà hiện diện ngay trong đời sống thường ngày.

Điều đó không phải ngẫu nhiên.

Từ cuối thế kỷ XIX, Glasgow đã trở thành một trong những trung tâm nghệ thuật quan trọng của châu Âu. Trường Mỹ thuật Glasgow đào tạo nhiều nghệ sĩ và nhà thiết kế xuất sắc, trong đó nổi tiếng nhất là Charles Rennie Mackintosh. Cùng với các cộng sự của mình, ông tạo nên Glasgow Style – phong cách thiết kế có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào Art Nouveau sau này.

Có lẽ vì thế mà hơn một thế kỷ trôi qua, thành phố vẫn giữ được một bầu không khí rất sáng tạo. Người ta không chỉ đến đây để ngắm nghệ thuật, mà còn sống cùng nghệ thuật.

Tôi đi ngang một quảng trường nhỏ. Có vài nghệ sĩ hát rong trên phố. Khi thấy tôi dừng lại xem, họ bắt đầu chơi bài Auld Lang Syne. Chắc vì họ thấy tôi là người nước ngoài. Giữa màn mưa lất phất, giai điệu quen thuộc ấy vang lên rất du dương.

Tôi đứng nghe đến hết bài hát rồi mới tiếp tục bước đi. Mưa vẫn lất phất như từ sáng, người qua đường vẫn chẳng mấy ai mở ô.

Auld Lang Syne thường được hát vào lúc chia tay. Thật tình cờ, tôi cũng sắp rời Glasgow.

Hai mươi bốn giờ không đủ để hiểu Scotland. Nhưng cũng đủ để tôi nhận ra, ngoài những lâu đài, cao nguyên và những câu chuyện về Jacobites, còn có một Scotland rất khác. Một Scotland trẻ trung, sáng tạo và đầy chất nghệ mà tôi gặp ở Glasgow.

(Hết)

Discover more from Simple Little Things

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading