
Hồi xưa, muốn làm bánh ít, bánh xèo, bánh lọt, bánh bò, bánh da lợn, bánh trôi nước hay bất cứ loại bánh nào làm từ bột, thì phải tự xay chứ không có bột pha sẵn như bây giờ. Mà xay cũng phải xay bằng tay, chứ làm gì có máy móc. Dụng cụ để xay bột hồi đó là chiếc cối đá.
Cối đá được làm bằng… đá, gồm hai phần. Phần trên là một khối đá hình phễu, trên miệng có hai lỗ đối diện nhau để gắn tay cầm. Phần dưới có rãnh cho bột chảy ra. Hai mặt tiếp giáp nhau của cối được giữ bằng một cái khớp trụ bằng gỗ gọi là “ngõng cối”. Cái ngõng cối ở giữa thớt dưới trồi lên, “ăn” vào cái lỗ có sẵn ở thớt trên, nhờ vậy mà khi quay cối vẫn giữ được thăng bằng.
Hồi đó tôi hay phụ bà nội xay bột. Thực ra mẹ mới là người hay xay hơn, nhưng mỗi lần nhớ tới cái cối đá là tôi lại nhớ cái dáng nhỏ bé của bà nội gò lưng quay cối.
Chiếc cối rất nặng, nên bà phải dùng hết sức mới đẩy nổi. Tôi thường phụ bà đổ thêm nếp hoặc gạo vào cối, vì bà phải quay luôn tay để cối không bị mất trớn. Bà hay nói muốn bột mịn thì phải quay đều tay, nhanh quá thì cối trật khớp, còn chậm quá thì cối mất trớn sẽ nặng. Bà cứ thế quay đều những vòng tròn nhẫn nại.
Nghĩ lại, chiếc cối đá và việc xay bột cũng giống như cuộc đời của những người phụ nữ nông thôn ở thế hệ bà tôi, có lẽ chỉ gói gọn trong hai chữ: nhọc nhằn và nhẫn nại.
Ngày xưa kinh tế khó khăn, nhà lại xa chợ nên làm gì có quà bánh bán sẵn. Muốn ăn bánh thì phải tự làm, mà muốn làm thì phải tự xay bột. Nhờ chiếc cối đá ấy mà tuổi thơ của chị em tôi vẫn có đủ thứ bánh trái, chẳng thua gì trẻ con ở chợ.
Chiếc cối từng là vật dụng không thể thiếu trong mỗi căn bếp quê. Nhưng từ ngày quê nghèo có điện, máy xay xuất hiện, thì cối đá cũng dần bị bỏ quên, nằm chỏng chơ ở một góc sân nhà.
Bây giờ cối đá đã lặng im, mặc cho cuộc đời ngoài kia vẫn xoay vần, còn nó thì không xoay nữa.









