Hồi xưa, ông nội tôi lúc nào cũng có một cái khăn rằn.
Cái khăn cũ mèm, màu đã bạc đi vì nắng với vì giặt quá nhiều lần. Lúc nào ông cũng đeo chiếc khăn đó.
Ra đồng, ông quấn khăn lên đầu che nắng. Trời lạnh thì ông choàng lên cổ. Có khi lấy lau mồ hôi, lau tay, phủ tạm lên đồ đạc hay gói cái gì đó mang theo. Có bữa trời nắng quá, ông nhúng ướt khăn rằn rồi quấn lên đầu cho mát.
Nhà tôi có một khoảnh ruộng dưới bưng. Tôi thường mang cơm trưa cho ông mỗi khi ông xuống đó làm việc. Từ xa, không nhìn thấy ông đâu, chỉ thấy chiếc khăn rằn nhấp nhô giữa ruộng lúa.
Đi ruộng về, ông thường tháo khăn ra vắt lên dây thép ngoài hè cho khô mồ hôi. Cái khăn bạc màu bay phất phơ trước gió chiều nhìn rất quen thuộc.
Cái khăn rằn hồi đó giống như vật bất ly thân của đàn ông quê vậy. Chỉ cần thấy cái khăn vắt trên vách hay trên bộ ván là biết ông đang đâu đó quanh nhà.
Bây giờ ít còn thấy ai mang khăn rằn kiểu đó mỗi ngày nữa. Khăn rằn giờ được bán như một món quà lưu niệm cho du khách.
Một buổi chiều mùa thu ở Paris, thấy thấp thoáng một chiếc khăn rằn giữa dòng người, tự nhiên tôi đứng khựng lại vài giây. Hóa ra tôi vẫn nhớ rất rõ chiếc khăn đó.
Chiếc khăn rằn đối với tôi không chỉ là hình ảnh của miền Tây hay của Việt Nam, mà còn là hình ảnh của ông tôi giữa ruộng đồng năm cũ.










