Nếu có một món mà người miền Tây Việt Nam mang theo cả khí hậu của quê họ vào trong tô, thì tôi nghĩ chắc là món bún mắm.
Đó là món ăn rất khó giải thích với người chưa từng ăn. Chỉ cần nghe “mắm” thôi là nhiều người đã hơi sợ . Nhưng ai ăn quen rồi thường sẽ nhớ rất lâu. Vì bún mắm không phải kiểu vị nhẹ nhàng. Nó đậm, thơm, nóng, ngọt, mặn và rất miền-sông-nước.
Nước lèo bún mắm có cái mùi rất riêng. Mùi mắm cá linh, cá sặc nấu lên, nhưng không còn gắt nữa mà chuyển thành thứ mùi sâu và tròn, quyện với sả, tỏi phi và nước hầm.
Rồi trên mặt tô lúc nào cũng rất đông vui: tôm, mực, heo quay, cà tím, và đôi khi cả cá lóc gỡ xương.
Bún mắm là món phải ăn với rất nhiều rau: rau muống bào, giá, rau đắng, hẹ và đặc biệt là bông súng. Rau càng nhiều càng đúng kiểu miền Tây. Cái cảm giác cắn một cọng bông súng trắng giòn trong tô nước lèo nóng gần như là định nghĩa của miền Tây. Nó mát, giòn, hơi xốp và có cái vị rất “nước”. Không có bông súng tự nhiên tô bún mất cảm giác đây là món của miền Tây nước nổi.
Nó không phải kiểu món thanh cảnh để ăn nhỏ nhẹ trong một không gian tinh tế, khép kín. Nó là món ăn của chiếc quán ven đường lộng gió, người ta vừa ăn vừa lau mồ hôi, húp một muỗng nước lèo nóng, và mùi mắm, mùi sả bốc thẳng lên mặt.
Bún mắm với tôi là miền Tây mùa nước nổi, là chợ nổi buổi sáng, là ghe xuồng, là tiếng máy nổ ngoài sông và cái nóng ẩm khiến ly trà đá lúc nào cũng hết rất nhanh.
Một lần, bên chiếc ao súng trứ danh của nhà danh họa Monet, tôi bỗng nhớ tới … mùi bún mắm. Tự nhiên thấy quê nhà ở rất gần.










